Các dân tộc Việt Nam theo nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me

[CPP] Các dân tộc Việt Nam theo nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me cùng một số thông tin.

>> Xem thêm: Các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc Việt Nam

Các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme cư trú rộng khắp Đông Nam Á, nhất là ở Đông Nam Á lục địa, bao gồm cả đông bắc Ấn Độ và nam Trung Quốc. Tổ tiên các tộc người này sinh sống trong khu vực này từ rất sớm.

Tại Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme có 21 dân tộc với gần 2,6 triệu người (2009), phân bố trải dài từ vùng Tây Bắc qua Trường Sơn – Tây Nguyên vào Nam Bộ. Ngoài dân tộc Khơme, hơn 1,2 triệu người, cư trú chủ yếu ở đồng bằng, còn lại đều ở miền núi, trong đó đông nhất là dân tộc Bana cũng chỉ gần 228.000 người; thậm chí có những dân tộc dưới 500 người, như: Rơmăm, Brâu và Ơđu. Phần lớn các tộc người nhóm Môn – Khơme là cư dân bản địa, nhưng cũng có một số đã di cư tới do những biến động lịch sử ở phía tây Đông Dương, khi tổ tiên người Thái và người Miến bành trướng xuống phía nam vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai. Nhiều dân tộc ngày nay cư trú vắt qua biên giới quốc gia, như người Khơmú, Taôi, Cơtu, Gié – Triêng…, đặc biệt người Khơme là đồng tộc của cư dân đa số ở Campuchia.

Các dân tộc nhóm Môn – Khơme đã có quá trình giao lưu văn hoá lâu dài với các dân tộc cộng cư trong từng vùng. Ở Tây Bắc và miền núi tỉnh Nghệ An, họ chịu ảnh hưởng đậm nét của người Thái; còn ở Tây Nguyên, giữa họ và các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo có nhiều yếu tố chung hoặc tương đồng; trong khi đó ở Nam Bộ là sự giao tiếp văn hoá giữa người Khơme và người Việt.

Trưng bày về các cư dân nhóm Môn – Khơme được bố trí chủ yếu ở tầng 2 của tòa “Trống đồng”, gồm 2 không gian nối tiếp nhau: Môn – Khơme miền Bắc và Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên. Văn hóa và cuộc sống của họ thể hiện thông qua hệ thống hiện vật, đặc biệt là đồ đan (nhiều loại gùi, giỏ tuốt lúa, đó bắt cá), nhạc cụ bằng tre, vỏ bầu… và ảnh thực địa. Các thông tin về hiện vật và các bài viết đều được diễn giải bằng 3 ngữ: Việt, Pháp và Anh. Có phim video lễ hiến sinh trâu của người Bana. Ngoài ra, giữa sảnh chính ở tầng 1 còn có cây cột lễ của người Co, trong Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) có nhà rông Bana và nhà mồ Cơtu.

Môn – Khơ me Miền Bắc

Người Kháng

Kháng là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á) ở Việt Nam. Người Kháng sống chủ yếu ở vùng núi giữa đến vùng cao thuộc các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu, với dân số hơn 13.800 người (2009). Nếp sống của họ đã có sự hoà nhập đáng kể với văn hóa Thái, tuy vậy người Kháng vẫn lưu giữ được nhiều nét đặc trưng.

Người Kháng giỏi đan lát, làm và sử dụng thuyền độc mộc, thuyền đuôi én để đánh cá và vận chuyển trên sông suối. Đặc biệt, xưa kia họ được biết đến như một cư dân có tục tu mui, uống nước cay qua mũi.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Kháng, giỏ đựng cá, giỏ đựng xôi, vỏ bầu…, được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme miền Bắc” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Khơmú

Khơmú là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á) ở Việt Nam. Với dân số hơn 72.900 người (2009), họ sống chủ yếu ở các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Thanh Hóa và Nghệ An. Người Khơmú còn ở Lào, Thái Lan…

Hoạt động kinh tế của người Khơmú chủ yếu là canh tác nương rẫy, với các loại cây trồng chính như ngô, khoai, sắn. Hái lượm và săn bắt có vai trò quan trọng trong đời sống. Gia súc, gia cầm được nuôi để phục vụ nhu cầu thực phẩm, nhưng quan trọng nữa là cho các nghi lễ. Nghề đan lát phát triển, chủ yếu là đan đồ gia dụng, đồ dựng để vận chuyển… Đồ đan của người Khơmú còn được trao đổi, bán cho những người khác tộc. Phụ nữ Khơmú có truyền thống dệt vải bằng loại dụng cụ dệt buộc lưng.

Họ của người Khơmú đều mang tên một loài thú, chim, cây cỏ nào đó. Trong tập tục hôn nhân, chàng rể phải sống một năm đầu bên gia đình vợ. Trong thời gian này, người chồng đổi họ theo vợ, con mang họ mẹ. Sau thời gian ở rể, gia đình sẽ chuyển về nhà chồng, khi đó, vợ, chồng, con đều sẽ đổi sang họ của bố. Vai trò của anh/em trai được coi trọng đối với nhiều công việc hệ trọng của gia đình chị/em gái, nhất là việc dựng vợ gả chồng cho các cháu.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Khơmú, nữ phục, gùi đeo qua trán, các dụng cụ dệt vải…, được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme miền Bắc” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Mảng

Mảng là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á) ở Việt Nam. Theo thống kế dân số toàn quốc năm 2009, có 3.700 người Mảng,cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu.

Hoạt động kinh tế chính của người Mảng là canh tác nương rẫy. Hái lượm và săn bắt có vai trò quan trọng trong đời sống. Gia súc, gia cầm được nuôi cho nhu cầu về thực phẩm, hơn nữa, để làm lễ vật trong cầu cúng. Trong nghề thủ công, đan lát phát triển. Đồ đan của người Mảng được nhiều tộc người khác ưa chuộng. Nét độc đáo của y phục truyền thống của phụ nữ Mảng là tấm choàng may bằng vải màu trắng, dùng quấn quanh thân.

Người Mảng có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như lễ tra hạt trên nương, lễ cúng sau mùa thu hoạch, cúng hồn lúa, mẹ lúa…

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Mảng, nữ phục, gùi đeo qua trán…, được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ trong không gian “Môn – Khơme miền Bắc” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Ơđu

Theo thống kê quốc gia năm 2009, chỉ có 376 người Ơđu, cư trú chủ yếu ở miền núi Nghệ An. Đây là dân tộc ít người nhất Việt Nam. Ngoài ra, người Ơđu còn có mặt ở Lào. Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á), tuy nhiên, hiện nay, ngay cả ở trong cộng đồng, họ chủ yếu sử dụng tiếng Thái hoặc tiếng Khơmú, rất ít người còn biết tiếng Ơđu.

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Ơđu là canh tác nương rẫy, với các loại cây lương thực chính là lúa, ngô, sắn… Hái lượm, săn bắt có vị trí quan trọng trong đời sống. Hằng năm, khi xuất hiện tiếng sấm đầu mùa, các bản thường tổ chức lễ hội đón mừng. Người Ơđu ở nhà sàn, sống theo gia đình nhỏ. Trong hôn nhân có tục ở rể, sau một thời gian, người đàn ông mới đưa vợ con về nhà mình.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Ơđu, giỏ cá, giỏ tra hạt, ống đựng tiền…, được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme miền Bắc” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Xinhmun

Theo thống kê dân số năm 2009, ở Việt Nam có gần 23.300 người Xinhmun, cư trú tập trung trong tỉnh Sơn La và tỉnh Điện Biên.

Người Xinhmun sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy, trồng lúa, ngô. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan của họ đẹp và bền. Nhà sàn truyền thống của Xinhmun có mái khum hình mai rùa. Trước đây, nhằm ghi nhận việc vay mượn, người Xinhmun thường khắc vạch các ký hiệu lên những thanh tre, để người nợ và chủ nợ cùng ghi nhớ. Như nhiều cư dân khác, người Xinhmun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần…

Nhiều nghi lễ nông nghiệp vẫn thường được tổ chức trong canh tác nương rẫy. Trong tục lệ hôn nhân, có 2 nghi lễ quan trọng: lễ cưới, để đón rể về sống với gia đình nhà gái, và lễ đón dâu về nhà trai, tổ chức nhiều năm sau đó, khi hai vợ chồng đã nhiều tuổi, con đã lớn.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Xinhmun, mõ trâu, đó đơm cá, giỏ đựng hạt giống…, được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme miền Bắc” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Môn – Khơ me Miền Nam

Người Bana

Người Ba Na (các tên gọi khác: Giơ Lâng, Rơ Ngao, Tơ Lộ, Bơ Nâm, Krem, Roh, Con Kde, A la công, Krăng, Bơ Môn, Kpăng Công) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.

Người Ba Na cư trú chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và cao nguyên trung phần Việt Nam, có dân số 174.456 người (đến năm 2003) và có dân số 227.716 người vào năm 2009. Người Ba Na cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ba Na cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai (104.997 người, chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh và 45,9% tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Kon Tum (99.416 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 43,7% tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Phú Yên (4.145 người, chiếm 1,8 % tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Bình Định (18.175 người, chiếm 8,0% tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Đắk Lắk (301 người), Bình Thuận (133 người).

Người Brâu

Tổ tiên người Brâu sinh tụ ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia; một số đã di cư sang khu vực bắc Tây Nguyên của Việt Nam cách đây trên 100 năm. Theo thống kê năm 2009, ở Việt Nam có 397 người Brâu, đây là một trong 5 dân tộc có dân số dưới 1000 người và là một trong hai dân tộc ít người nhất trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á). Họ cư trú ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Canh tác rẫy là hoạt động sản xuất chính của người Brâu để tự túc lương thực; trước kia trồng nhiều lúa nếp, bên cạnh đó có lúa tẻ, ngô, sắn… Mỗi năm làm một vụ, kéo dài trong khoảng 9 tháng kể từ khi chọn đất phát rẫy đến khi tuốt lúa. Dân làng tự túc đồ đan và phần lớn sản phẩm rèn, còn đồ vải và trang sức thì từ lâu đều do trao đổi hàng hoá với những cư dân khác mới có được.

Theo nếp truyền thống, người Brâu ở nhà sàn và bố trí làng có tính phòng thủ. Nhà rông, nhà của cộng đồng, đứng cao lớn ở giữa, nhà của các gia đình dựng xung quanh và đều quay đầu hồi có cửa chính vào khu vực trung tâm. Ngày nay, do thực hiện “định canh định cư”, lối cư trú đó đã được thay thế bằng hình thức làng theo quy hoạch mới, với những ngôi nhà trệt lợp ngói, dựng thẳng hàng và cùng nhìn ra quốc lộ 14C (đường lên cửa khẩu Bờ Y). Trong làng có cả những người khác tộc: Mường, Thái, Việt… Nhiều gia đình Brâu có con rể, con dâu là người Lào, Mường, Khơme, Giarai, Cadong, Hrê…

Người Brâu tin có rất nhiều “thần linh”: thần mặt trời, thần rừng, thần nước, thần đất, thần lúa, thần bản mệnh…, và mọi thứ trên thế gian đều do vị thần Paxây tạo ra. Cuộc sống của họ gắn liền với nhiều lễ cúng lớn hay nhỏ, ví dụ một vụ canh tác rẫy cần có lễ chọn đất, lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, lễ trỉa lúa, lễ cúng lúa mới, lễ thu hoạch, lễ mở cửa kho. Trâu là vật hiến sinh lớn nhất theo phong tục Brâu.

Nhạc cụ của người Brâu đa dạng, nhưng giá trị nhất và quan trọng nhất là cồng chiêng. Đặc biệt, loại chiêng tha rất đặc sắc về âm thanh và cách thức gõ, mỗi bộ chỉ gồm hai chiếc, “vợ” và “chồng”, nhưng trước kia có thể trị giá khoảng 30-40 con trâu.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Brâu được giới thiệu cùng với hiện vật các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Bru – Vân Kiều

Người Bru – Vân Kiều (còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Ma Coong, người Trì hay người Khùa) là dân tộc cư trú tại trung phần bán đảo Đông Dương gồm Lào, Việt Nam và Thái Lan. Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer.

Tại Việt Nam họ là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, người Vân Kiều là một trong những dân tộc thiểu số mang họ Hồ nhằm ghi công chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện nay xếp loại vào dân tộc Bru – Vân Kiều cả những người Pa Kô, với số dân tại Việt Nam ước cỡ 74.500 người (2009).

Người Chơro

Dân tộc Chơro có gần 27.000 người (2009), phần lớn cư trú ở tỉnh Đồng Nai. Tổ tiên người Chơro thuộc lớp cư dân bản địa ở miền núi phía nam Đông Dương. Nằm trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á), tiếng Chơro vừa có nhiều từ trong tiếng Khơme, vừa gần gũi với tiếng nói của những tộc người cùng nhóm ngôn ngữ ở vùng nam Tây Nguyên và đông Nam Bộ. Đến nay, người Chơro đã tiếp thu nhiều ảnh hưởng về ngôn ngữ và văn hoá từ người Việt cùng cư trú ở địa phương.

Trong xã hội truyền thống, lối sống của người Chơro có nhiều nét tương đồng với các tộc người bản địa khác ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Đó là lối sống nặng tính tự cấp tự túc trong làng; kinh tế gia đình dựa chủ yếu vào nông nghiệp nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, săn bắn, bắt cá, hái lượm có vai trò đáng kể trong đời sống. Hoạt động đan lát phổ biến trong các gia đình, tạo những vật dụng thiết thực như gùi các loại, nia, mủng, phên, chiếu… Một số người làm nghề rèn, chủ yếu là sửa chữa công cụ lao động. Các nghề thủ công khác không phát triển. Trao đổi hàng hoá với bên ngoài tương đối thuận lợi, cung cấp cho dân làng những vật dụng thiết yếu.

Từ khá lâu, nét truyền thống Chơro còn lại không nhiều, từ hình thức cư trú, nhà cửa cho đến y phục đều có sự thay đổi, thể hiện xu thế hoà nhập mạnh mẽ với người Việt. Nhà sàn đã vắng bóng, tập quán ở nhà sàn được thay thế bằng nếp sinh hoạt trong nhà trệt. Khố, váy, áo chui đầu và tấm choàng đã được thay thế bằng quần áo mặc như người Việt. Tuy nhiên, người Chơro vẫn giữ tập quán đeo gùi sau lưng, làm rượu cần, coi ché và bộ chiêng 7 chiếc là tài sản giá trị… Về âm nhạc, ngoài cồng chiêng, đôi khi có thể gặp vài loại nhạc cụ truyền thống khác như tiêu, đàn ống tre, cũng như có thể thấy họ hát đối đáp trong dịp lễ hội. Phong tục tang ma chịu ảnh hưởng của người Việt. Tập tục cúng “thần rừng” đã mai một, nhưng cúng “thần lúa” hằng năm vẫn được coi trọng ở nhiều nơi, nhằm mục đích cầu mùa. Mặc dù đã có những gia đình là kết quả của hôn nhân với người khác tộc, nhất là với đàn ông Việt và Khơme, nhưng tàn dư tập tục mẫu hệ lâu đời vẫn được duy trì trong xã hội Chơro.

Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Chơro được giới thiệu cùng với hiện vật các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Co

Tổ tiên người Co sinh tụ lâu đời ở vùng rừng núi tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Ngày nay, vẫn trên địa bàn ấy, dân tộc Co có gần 34.000 người (2009). Trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á),tiếng Co gần gũi với tiếng nói của những cư dân bản địa khác ở khu vực bắc Tây Nguyên, như: Xơđăng, Hrê…

“Quế Quảng” (ở Trà My và Trà Bồng) là đặc sản nổi tiếng và có vai trò quan trọng trong đời sống người Co. Tuy nhiên, canh tác rẫy vẫn giữ vị trí chủ đạo từ xưa tới nay, với cây lương thực chính là lúa, ngoài ra có ngô, sắn… Dụng cụ nông nghiệp có nhiều loại, như: rìu, dao, gậy chọc lỗ, ống trỉa lúa, nạo cỏ, giỏ tuốt lúa, gùi vận chuyển… Mỗi gia đình thường tự túc toàn bộ đồ đan: nia, mủng, rổ, đó, giỏ…, đặc biệt là các loại gùi. Người Co không dệt vải, họ thường mua đồ vải của người Xơđăng và người Việt. Sở thích đeo nhiều chuỗi cườm có màu sắc và cỡ hạt khác nhau, cũng như các trang sức chất liệu khác, là một đặc điểm của người Co.

Quan hệ cộng đồng dân làng là một nét truyền thống trong xã hội Co. Xưa kia cả làng người Co ở chung trong một hoặc vài ngôi nhà sàn rất dài, nhưng từ mấy chục năm trước đã không còn thấy loại hình cư trú này. Thay vào đó, các gia đình riêng với hình thức nhà cửa như ở vùng người Việt xứ Quảng trở nên phổ biến. Người Co tin có rất nhiều kơi (ông), mah (bà) và những siêu linh khác chi phối cuộc sống của họ. Vì thế, các nghi lễ cúng bái được coi trọng, trong đó hiến sinh trâu của làng là nghi lễ lớn nhất, với những hoạt động phong phú và giàu bản sắc.

Âm nhạc cồng chiêng rất quan trọng, người Co thường dùng bộ chiêng 3 chiếc diễn tấu kết hợp với một chiếc trống. Họ còn chế tác và sử dụng nhiều loại nhạc cụ bằng vỏ bầu, ống tre, nứa… Vốn truyện cổ, các điệu dân ca và múa nghi lễ cũng là những bộ phận quan trọng trong di sản văn hoá của dân tộc này.

Trưng bày về người Co được bố trí cùng với các dân tộc khác thuộc nhóm Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”. Ngoài ra, một cột lễ đâm trâu với nhiều trang trí truyền thống đưa về từ Quảng Ngãi, được dựng ở trung tâm sảnh lớn ở tầng 1. Một nhà mồ (tỷ lệ 1:1) được những người Co ở Quảng Nam làm và dựng trong Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) từ năm 2005. Toàn bộ thông tin hiện vật và các bài viết trong trưng bày đều được thực hiện bằng 3 ngôn ngữ : Việt, Pháp, Anh.

Người Cơho

Người Cơho là một trong những cư dân bản địa ở khu vực nam Tây Nguyên, bao gồm các nhóm địa phương như: Srê, Lat, Chil, Nôp… Với dân số hơn 166.000 người (2009), họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, một bộ phận nhỏ ở miền núi các tỉnh kề cận: Bình Thuận, Ninh Thuận và Khánh Hoà. Trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á),người Cơho có quan hệ gần gũi hơn về tiếng nói và văn hoá với người Mạ, Mnông, Xtiêng và Chơro.

Nguồn sống chính của đa số người Cơho là nông nghiệp nương rẫy. Xưa kia, rẫy được trồng một vụ rồi bỏ hoá, ít nhất 10 năm sau mới canh tác trở lại. Nhóm Srê và một số làng người Nôp từ lâu đời đã làm cả ruộng nước, gồm ruộng cao và ruộng trũng, với kỹ thuật tương tự như cách làm ruộng của người Chăm: dùng từng đôi trâu làm sức kéo khi cày và bừa, gieo sạ thóc giống thay vì cấy mạ…

Theo nếp cổ truyền, đàn ông Cơho đóng khố, ở trần, còn phụ nữ quấn váy, mặc áo chui đầu và không có ống tay. Khi trời lạnh, mọi người choàng tấm chăn vải; trong lễ hội, họ quấn khăn quanh đầu. Đồ trang sức có nhiều loại: hoa tai, khuyên tai, vòng tay, vòng chân, vòng cổ. Tập quán ăn trầu khá phổ biến, nhất là ở nhóm Nôp. Nam nữ Cơho đều hút thuốc lá, nhưng chỉ nam giới dùng tẩu, làm bằng tre hay tẩu gỗ. Rượu cần là thức uống phải có trong các lễ cúng, tang ma, cưới hỏi và cả khi tiếp khách quý.

Tập tục mẫu hệ được bảo tồn đậm nét trong xã hội Cơho. Theo đó, con mang họ mẹ, dòng họ bao gồm những người chung một huyết thống theo dòng mẹ. Trong gia đình, vai trò bà chủ nhà được đề cao, tài sản thừa kế thuộc về các con gái. Trong hôn nhân, bên gái được quyền chủ động, nhà gái phải lo đồ sính lễ cưới chồng cho con. Đôi tân hôn ở bên gia đình chồng trong khoảng một tuần đến vài tháng, sau đó, chuyển đến cư trú bên nhà vợ. Họ được bố trí một buồng trong ngôi nhà sàn dài của gia đình đằng vợ. Ngày nay, thường sau vài năm sống chung với gia đình vợ, họ tách ra ở riêng.

Người Cơho quan niệm Nđu ở trên trời là vị thần khai sáng thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều thần linh khác: thần đất, thần sấm sét, thần mặt trời, thần mặt trăng, thần mưa, thần núi, thần rừng, thần nước, thần nhà, thần bảo hộ làng, thần lúa hay hồn lúa… Cuộc sống của họ gắn liền với rất nhiều lễ cúng, trong đó có những nghi lễ cầu mùa được thực hiện trong mỗi chu kỳ canh tác lúa rẫy và lúa ruộng.

Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Cơho: nhạc cụ, khố, gùi, đồ dùng trong ăn uống, được giới thiệu trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Cơtu

Ở Việt Nam năm 2009 có hơn 61.500 người Cơtu. Họ cư trú từ lâu đời ở miền núi Quảng Nam và Thừa Thiên – Huế, nối liền với địa bàn phân bố của khoảng 30.000 người Cơtu ở Sekong (Lào). Người Cơtu, người Taôi và người Bru -Vân Kiều gần gũi nhau về văn hoá. Tiếng nói của họ cùng thuộc phân nhóm Katuic trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á).

Người Cơtu làm rẫy theo lối chặt phát cây cối rồi đốt để khai hoang đất, khi gieo trồng thì chọc lỗ – tra hạt, thu hoạch lúa bằng cách dùng tay tuốt từng bông. Làng truyền thống Cơtu có tính phòng thủ, với vòng rào ngăn cách với bên ngoài, những ngôi nhà sàn của các gia đình dựng thành một vòng xung quanh ngôi nhà gươl (nhà của cộng đồng) cao lớn nhất và đẹp nhất. Tương tự nhà rông ở bắc Tây Nguyên, nhà gươl thời xưa là “nhà đàn ông”, phụ nữ chỉ lên đó vào một số dịp đặc biệt. Nhà gươl và nhà mồ là những tác phẩm kiến trúc thể hiện tập trung nghệ thuật điêu khắc Cơtu.

Tương tự ở các tộc người bản địa khác ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, đàn ông Cơtu xưa đóng khố, ở trần; phụ nữ quấn váy, mặc áo chui đầu và không có ống tay; nam, nữ đều dùng tấm chăn vải để choàng khi trời lạnh. Trên nền vải màu đen hoặc xanh chàm, hoa văn trang trí được dệt bằng sợi màu, hạt cườm trắng, hoặc hạt chì là loại giá trị nhất. Đồ trang sức gồm nhiều loại, trong đó các chuỗi hạt mã não được ưa thích đặc biệt.

Tập tục phụ hệ chi phối quan hệ dòng họ, gia đình và hôn nhân. Luật tục quy định sự khác biệt mang tính lễ thức giữa đôi bên thông gia, theo đó, những thứ nhà trai dành cho nhà gái là: động vật 4 chân, cơm hay gạo tẻ, rượu tàvạc hay trơđin (nguồn gốc từ cây rừng), chiêng, ché, bát, đĩa, vòng chuỗi cườm và mã não, gùi của nữ giới. Ngược lại, nhà gái dành cho nhà trai những con vật 2 chân và có cánh, thuỷ sản, động vật không chân, xôi hay gạo nếp, rượu cần, đồ vải, gùi nam giới.

Người Cơtu tin rằng có rất nhiều abhui và yàng (ma, thần linh), khiến họ phải thực hiện rất nhiều nghi lễ và kiêng cữ trong săn bắn, canh tác, làm nhà, chữa bệnh… Hiến sinh trâu là lễ cúng lớn nhất, dù của gia đình hay làng tổ chức nhưng luôn là lễ hội thể hiện tính cộng đồng. Xưa kia, trong trường hợp đặc biệt, người Cơtu còn dùng máu người để cúng, gắn liền với đó là tục “săn máu” đã chấm dứt hẳn từ nửa đầu thế kỷ 20.

Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của Cơtu, vũ khí, y phục, nhạc cụ, giỏ tuốt lúa, vật dụng bằng vỏ bầu…, được giới thiệu theo các chủ đề cùng với hiện vật của những dân tộc khác, trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Gié – Triêng

Người Gié – Triêng thuộc số cư dân sinh sống từ rất lâu đời ở Bắc Tây Nguyên và Nam Lào. Ở Việt Nam, họ có gần 51.000 người (2009), cư trú ở tỉnh Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Nam. Cộng đồng Gié – Triêng có 4 nhóm địa phương: Gié, Triêng (T’riêng), Ve và Bnoong, mỗi nhóm có một số nét riêng bên cạnh những yếu tố chung về văn hoá và ngôn ngữ. Ở Lào, Triêng và Gié (Taliêng, Lavi) được coi là hai dân tộc, cư trú ở tỉnh Sekong và tỉnh Attapeu. Ngôn ngữ Gié – Triêng được xếp vào nhóm Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á).

Cư dân Gié – Triêng trồng trọt chủ yếu trên rẫy, mỗi năm một vụ, đa canh và xen canh: cùng với lúa có ngô, khoai môn, khoai lang, sắn, bầu, bí… Trong cuộc sống nặng tính tự cấp tự túc trước đây, những sản phẩm khai thác từ tự nhiên (các loại động thực vật trong rừng và dưới sông suối) cũng có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Vật nuôi chỉ dùng cho các lễ cúng và để đổi lấy những thứ thiết yếu cho gia đình. Phụ nữ dệt vải bằng sợi bông tự xe và nhuộm chàm. Đàn ông đan các loại gùi và nhiều vật dụng khác. Ở Đắc Pét (Kon Tum) trước kia có nghề làm gốm theo phương pháp nặn tay (không dùng bàn xoay) và nung lộ thiên, cung cấp đồ dùng cho cả những tộc người khác trong vùng. Một số nơi có nghề đãi vàng sa khoáng để bán cho thương nhân từ nơi khác tới.

Làng thường không lớn, sau 1975, đôi nơi ở vùng người Bnoong và người Gié vẫn thấy kiểu nhà sàn dài cổ truyền, cả làng chỉ ở trong một vài ngôi nhà. Ngày nay hình thức nhà trệt nhỏ đã trở nên phổ biến. Theo nếp xưa, trừ nhóm Bnoong ở miền núi Quảng Nam, các nhóm còn lại đều có tập quán dựng nhà rông – ngôi nhà cộng cộng của làng. Tuỳ nơi, ngôi nhà này được gọi là moong hay âng.

Tập tục “song hệ” tồn tại trong cộng đồng Gié – Triêng, theo đó, con trai mang họ của bố, con gái mang họ của mẹ. Mỗi dòng họ có truyền thuyết kể về cội nguồn xa xưa và cũng nhằm giải thích về tên gọi dòng họ cùng những kiêng cữ liên quan. Sau lễ cưới, đôi tân hôn thường ở với gia đình cô dâu vài ba năm, rồi chuyển sang gia đình chú rể. Họ cư trú luân chuyển cho tới khi cha mẹ một bên qua đời thì họ ở hẳn với gia đình bên còn lại.

Trên cơ sở tín niệm vạn vật hữu linh, –dân làng chú trọng các lễ cúng, điềm báo và kiêng cữ. Rất nhiều lễ tục được thực hiện trong mỗi mùa rẫy, mỗi đời người, mỗi gia đình, mỗi làng. Nghi lễ thường gắn liền với hiến sinh, lớn nhất là hiến sinh trâu cho “thần lúa”, “thần sấm sét”… Thuở xưa, họ còn dùng cả máu người để tế “thần linh” trong một số lễ cúng đặc biệt của làng.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật Gié – Triêng: ché, vòng tay, gùi, nhất là những chiếc gùi chế tác công phu với những hoạ tiết trang trí tinh xảo, được giới thiệu trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Hrê

Với dân số hơn 127.000 người (2009), dân tộc Hrê chỉ phân bố ở Việt Nam, đại bộ phận cư trú từ lâu đời ở miền núi hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á), tiếng Hrê có quan hệ gần gũi hơn với tiếng nói của các tộc người ở Bắc Tây Nguyên như Xơđăng, Bana…

Người Hrê vừa làm rẫy, vừa làm ruộng, nhưng lúa nước có vai trò kinh tế quan trọng hơn. Trong canh tác ruộng nước, họ chịu ảnh hưởng của người Việt (và trước đó là người Chăm) -những cư dân vùng đồng bằng kề cận: làm đất bằng cày và bừa với đôi trâu kéo, gieo mạ, cấy lúa… Còn cách thức làm rẫy của họ thì tương tự như những cư dân Trường Sơn – Tây Nguyên khác. Trong các nghề thủ công, chỉ có dệt vải và đan lát là phát triển, để tự túc y phục và vật dụng trong gia đình.

Nhà sàn của người Hrê có vách dựng nghiêng ra phía ngoài, tạo dáng “thượng thách hạ thu”. Hai đầu hồi nhà đều có sàn, thông với không gian bên trong nhà bằng cửa ra vào; trên mỗi đầu nóc đều có “sừng nhà” là hai đoạn tre từ rìa mái nhô lên và bắt chéo nhau.

Tính “song hệ”, bước trung gian giữa chế độ mẫu hệ và phụ hệ, thể hiện trong các lĩnh vực dòng họ, gia đình và hôn nhân. Nay thường thấy người Hrê mang họ Đinh, Phạm, Nguyễn… và con theo họ của cha, nhưng thực ra dân tộc này vốn không có tên họ kèm với tên cá nhân. Phần đông các cặp vợ chồng ở riêng sau khi đã có con đầu lòng; con út thường sống chung với cha mẹ để phung dưỡng và do đó được hưởng gia tài nhiều hơn các anh chị.

Người Hrê tin rằng có rất nhiều thế lực siêu nhiên liên quan đến cuộc sống của họ. Đó là “ma người chết” (kiêk chok), “hồn” người sống (mhua), thần lúa (yang sri), thần bếp lửa, thần nước…Vì vậy, họ coi trọng điềm báo, xem bói, thực hiện nhiều kiêng cữ, tổ chức các lễ cúng, lớn nhất là lễ cúng có hiến sinh trâu.

Cũng như các tộc người bản địa khác ở Trường Sơn – Tây Nguyên, âm nhạc cồng chiêng rất quan trọng với người Hrê, nhưng họ quý chiêng (không núm) hơn cồng và tấu cồng chiêng không chỉ trong nghi lễ, mà cả lúc vui chơi. Họ còn có nhiều loại nhạc cụ tự làm bằng tre nứa và vỏ bầu, như: đàn brook, ống tiêu talía, đàn môi pơpel, nhị rađang, “chiêng tre” ching kala… Những điệu dân ca kalêu,kachoi (hát đối đáp nam nữ) cũng là những di sản đặc sắc của người Hrê.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Hrê được giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Khơme

Người Khơme, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á), là cư dân đa số ở Campuchia, chủ nhân của nhiều di sản nổi tiếng thế giới, đặc biệt là những ngôi đền Angkor.

Ở Việt Nam, năm 2009 có hơn 1.260.000 người Khơme, sống chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, trên cả 3 vùng môi sinh lớn: nội địa, ven biển và đồi núi. Nghề nông giữ vị trí trọng yếu, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng đồng.

Quan hệ dòng họ và hệ thống thân tộc của người Khơme ngày càng biểu hiện tính phụ hệ, nhưng tàn dư mẫu hệ vẫn còn khá rõ. Gia đình nhỏ, dòng họ, phum sóc (xóm làng) là nền tảng của xã hội cổ truyền. Văn hoá Khơme thể hiện sự kết tinh giữa 3 yếu tố: Bàlamôn giáo, Phật giáo Theravada (Tiểu thừa) và tín ngưỡng dân gian. Người Khơme có nền văn học đặc sắc viết trên lá buông (xatra), ghi chép các chuyện kể dân gian, hội hè, trò chơi, huấn ca, Phật thoại…

Văn hoá Khơme là sự tiếp nối di sản rực rỡ của văn hoá Óc Eo (thế kỷ 2-7) và là một chủ thể ở đồng bằng sông Cửu Long cho đến trước thế kỷ 17. Lễ hội đua ghe ngo, dân vũ, các hình thức sân khấu như dù kê (la khôn bassắc), rô băm và dì kê là những sinh hoạt văn hoá nổi tiếng. Quá trình cộng cư giữa người Khơme với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm trong tiến trình lịch sử đã tạo nên vùng văn hoá Nam Bộ với nhiều sắc thái độc đáo và phong phú.

Trong trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, phần giới thiệu về người Khơme được bố trí trong cùng không gian với người Chăm và người Hoa, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”. Hiện vật rất phong phú, gồm nhiều loại nông cụ đặc trưng của đồng bằng Nam Bộ (nọc cấy, vằng gặt lúa, dao phát cỏ…), đồ gia dụng (vỏ dừa ủ ấm trà, dụng cụ nạo dừa, bình vôi…), các hộp dùng để đựng tro hài cốt, tượng chim thần Garuda, sách lá buông, đồ vải tơ tằm với họa tíêt thực hiện theo kỹ thuật ikat – sản phẩm nổi tiếng của phụ nữ Khơme… Các bức ảnh thực địa minh hoạ sống động cuộc sống của người địa phương. Ngoài ra, trong Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) còn có chiếc ghe đua (tuk ngo) dài hơn 25 m, được đưa về từ Sóc Trăng năm 2008. Tất cả các bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).

Người Mạ

Người Mạ (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại nam Trung phần. Người Mạ nói tiếng Mạ thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.

Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng 33.338 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0% tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), thành phố Hồ Chí Minh (72 người).

Người Mnông

Dân tộc Mnông ở Việt Nam có gần 103.000 người (2009), là một trong những cư dân bản địa ở nam Tây Nguyên. Hiện nay phần đông người Mnông cư trú tại hai tỉnh Đắc Nông và Đắc Lắc, một bộ phận ở Lâm Đồng và Bình Phước. Địa bàn phân bố của họ trải rộng sang cả Campuchia. Có nhiều nhóm Mnông: Gar, Nong, Preh, Prâng, Kuênh, Rơlăm, Buđâng… Tiếng Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á). Giữa họ và các tộc người trong cùng nhóm ngôn ngữ ở Nam Tây Nguyên như Mạ, Cơho, Xtiêng và Chơro có quan hệ gần gũi rõ nét về ngôn ngữ và văn hóa.

Tương tự như các cư dân khác ở Tây Nguyên, nguồn sống chủ yếu của người Mnông là nông nghiệp nương rẫy. Riêng nhóm Rơlăm ở ven hồ Lắc từ lâu đã canh tác lúa nước theo lối dùng trâu giẫm ruộng thay vì cày bừa. Trước đây, dệt vải và đan lát rất phổ biến. Một số nơi có các gia đình làm đồ đất nung, ngoài ra mỗi làng thường có một vài lò rèn. Người Mnông trước kia nổi tiếng về săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, nhất là hai nhóm Preh, Buđâng vùng Buôn Đôn – Ea Súp. Ngày nay vẫn có những gia đình nuôi voi. Nhiều gia đình phát triển chăn nuôi trâu bò, trồng cây công nghiệp như hồ tiêu, cà phê, làm dịch vụ du lịch…

Nhà Mnông đặc sắc bởi kiểu mái trùm thấp xuống gần mặt đất và uốn khum tròn ở hai đầu hồi, cửa chính được làm vồng lên như kiểu cửa tò vò. Xưa kia, hình thức nhà dài của các đại gia đình mẫu hệ tồn tại phổ biến. Một số nhóm (Gar, Nong…) ở nhà trệt, một số nhóm khác (Buđâng, Kuênh…) ở nhà sàn; nhóm Rơlăm tiếp thu ảnh hưởng nhà sàn của người Êđê láng giềng.

Trong đời sống cổ truyền, nổi bật là những tập tục của xã hội mẫu hệ. Người phụ nữ có vị trí quan trọng trong gia đình và dòng họ, còn người “chủ đất” và “chủ làng” đóng vai trò quan trọng trong nếp tự quản của từng bon (buôn, làng).

Theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, người Mnông cho rằng họ bị chi phối bởi rất nhiều “thần thiện” và “thần ác”: nữ thần mặt trời, thần sấm sét, thần suối sông, thần rừng núi, thần đất, thần lúa…, đặc biệt có thần voi Nguêc nguăl. Họ tổ chức nhiều lễ cúng trong cuộc sống nói chung và trong mỗi chu kỳ canh tác rẫy nói riêng, lớn nhất là lễ hiến sinh trâu.

Bên cạnh nhiều loại nhạc cụ làm bằng tre, nứa, vỏ bầu, sừng trâu…, cồng chiêng là một loại gia sản quý và âm nhạc cồng chiêng gắn bó sâu sắc với người Mnông. Ngoài ra, vùng người Mnông là nơi tìm thấy loại nhạc cụ đặc biệt và cổ xưa: đàn đá; bộ đàn đá đầu tiên được nhà dân tộc học Georges Condominas (người Pháp) phát hiện năm 1949 tại làng Sar Luk của người Mnông Gar. Trong các di sản văn hóa người Mnông còn lưu giữ được, sử thi (ot ndông) có vị trí riêng, không chỉ bởi sự đặc sắc của nó, mà còn bởi số lượng đã sưu tầm được vượt trội các nơi khác ở Việt Nam.

Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của Mnông, nhạc cụ, tẩu hút thuốc, đồ trang sức, đồ đan, vật dụng bằng vỏ bầu khô…, được giới thiệu trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Rơmăm

Rơmăm là một trong ba dân tộc ít người nhất ở Việt Nam, chỉ có 436 người (2009) sinh sống tại làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy (Kon Tum). Vùng ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia là địa bàn cư trú lâu đời của họ; hiện nay ở Campuchia cũng có những làng người Rơmăm. Tiếng Rơmăm được xếp vào nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng nói của người Halăng và người Cadong (dân tộc Xơđăng).

Người Rơmăm làm rẫy, trồng nhiều lúa nếp, đồng thời cũng trồng lúa tẻ, ngô, sắn, thuốc lá…, với cách thức canh tác tương tự như các cư dân bản địa khác ở Tây Nguyên: phát, đốt, chọc lỗ tra hạt… Tập quán gieo trỉa của họ giống với người Giarai láng giềng: một người cầm mỗi tay một chiếc gậy nhọn đầu và chọc lỗ, 1-2 phụ nữ theo sau để tra hạt giống.

Trước kia, đàn ông Rơmăm thạo đan lát, đàn bà dệt vải. Y phục thường bằng vải mộc (không nhuộm), gồm khố của nam giới, váy quấn và áo không ống tay của phụ nữ; trời lạnh thì có thêm tấm choàng, cũng đồng thời là chăn. Trang sức nữ chủ yếu là vòng tay, vòng cổ và hoa tai, người khá giả dùng hoa tai bằng ngà voi, đường kính có thể tới 4-5cm. Tập quán “căng tai” và cà răng ngày nay không còn.

Theo truyền thống, làng có nhà rông (nhà cộng đồng) ở giữa, những ngôi nhà sàn dài của các gia đình dựng thành một vòng xung quanh. Mỗi nhà dài có nhiều gia đình nhỏ, mỗi gia đình sở hữu một buồng riêng với bếp đặt trong đó. Gian giữa nhà là chỗ tiếp khách và sinh hoạt chung, một hành lang chạy dọc sàn nhà, kết nối không gian của các gia đình với nhau và với gian chung.

Xã hội Rơmăm ở giai đoạn quá độ từ mẫu hệ sang phụ hệ. Theo tập tục, sau lễ cưới, đôi vợ chồng thường ở với gia đình vợ 4-5 năm, sau đó chuyển sang gia đình chồng, hoặc họ cư trú luân chuyển đôi bên cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới ở ổn định một nơi. Luật tục được coi trọng. Quan hệ cộng đồng được đề cao. Ông “già làng” có vai trò như vị thủ lĩnh, có uy tín đặc biệt đối với toàn thể dân làng.

Người Rơmăm cho rằng trời, đất, sông, núi, con vật, chiêng, ché… đều có “hồn”. Mỗi người chết đi, hồn sẽ biến thành ma. Thường sau lễ mai táng vài ba năm, gia đình tổ chức lễ bỏ mả, một lễ lớn theo tập tục Rơmăm. “Hồn lúa” rất quan trọng, nhiều nghi lễ được tổ chức trong mỗi vụ canh tác lúa rẫy. Khi làm nhà, lập làng, ốm đau, sinh con… cũng đều có lễ cúng. Tùy nghi lễ, vật hiến sinh có thể là gà hay lợn, dê…, lớn nhất là trâu.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Rơmăm được giới thiệu cùng với hiện vật các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

Người Taôi

Taôi là cư dân bản địa ở miền trung Đông Dương, phân bố ở Lào và Việt Nam. Tại Việt Nam có ba nhóm địa phương, Pacô, Taôi và Bahi, tổng số 44.000 người (2009), sinh sống ở miền núi Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế. Các dân tộc Taôi, Cơtu và Bru – Vân Kiều gần gũi nhau về văn hóa; ngôn ngữ của họ được xếp vào phân nhóm Katuic trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á).

Kinh tế rẫy là nguồn sống chính của các gia đình. Cách thức canh tác tương tự như ở nhiều cư dân khác: phát – đốt – chọc lỗ tra hạt – tuốt lúa bằng tay. Rẫy thuộc loại du canh, trên đó xen canh nhiều loại cây trồng; mỗi năm có một vụ vào mùa mưa (tháng 4 – 11). Từ khoảng năm 1968 có thêm vụ rẫy chiêm (tháng 2 – 7). Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, dê, trâu, những năm gần đây phát triển nuôi bò. Hái lượm, săn bắt có ý nghĩa đáng kể với đời sống của các gia đình. Trong trao đổi hàng hóa với bên ngoài, quan hệ với vùng đồng bằng và với cư dân bên Lào có vai trò nổi bật.

Y phục truyền thống có màu chàm thẫm, với trang trí dùng nhiều màu đỏ. Phụ nữ mặc áo chui đầu (ít khi có ống tay), váy và thắt lưng vải; nam giới trước đây mặc khố và áo chui đầu. Khi trời lạnh họ sử dụng thêm tấm choàng, chủ yếu là màu đỏ. Cả nam và nữ trước đây sử dụng nhiều trang sức: vòng kim loại đeo tay và chân, chuỗi hạt mã não và chuỗi cườm đeo cổ, hoa tai cỡ lớn (bằng xương hoặc ngà voi). Cùng với tập quán “căng tai”, xưa kia việc cà răng và xăm mặt cũng thịnh hành.

Nhà sàn dài truyền thống có mái uốn khum ở hai đầu hồi; hai thanh gỗ tạc hình chim cu nhô lên trên mỗi đầu nóc. Nhóm Bahi từ khá lâu đã ở nhà trệt. Nhà rông (nhà công cộng của làng) chỉ tồn tại ở nhóm Taôi và một số làng của nhóm Pacô, nhưng nay không còn.

Những tập tục về dòng họ, hôn nhân và gia đình tương tự như ở hai dân tộc Cơtu và Bru – Vân Kiều. Đặc điểm của xã hội phụ hệ đã rõ nét. Theo nếp truyền thống, quy định về quan hệ hôn nhân một chiều giữa các dòng họ (yă) được thực hiện nghiêm ngặt và hình thức kết hôn giữa con trai của chị/em gái với con gái của anh/em trai được khuyến khích.

Với người sống, vía của mỗi người ký thác vào một cái bát, đặt trên “bàn thờ” chung của các thành viên trong nhà. Với người quá cố, sau lễ cải táng, ma cũng được thờ trong nhà, nhưng ở vị trí khác. Lễ cải táng là lễ hội lớn, thường 5-7 năm tổ chức một lần chung cho cả làng.

Dân làng cho rằng trong tự nhiên có rất nhiều “thần linh” (yang), có cả “thần đất làng” (yang sự), “thần của cải” (yang panuôl)… Liên quan đến “thần lúa” (yang sro), có hai lễ cúng quan trọng nhất, tổ chức khi lúa mọc cao bằng khoảng ngón tay, để cầu lúa tốt, và khi thu hoạch, nhằm cầu được nhiều thóc, đồng thời tạ ơn thần lúa.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của Taôi, gùi, ống đựng tên, y phục, nhạc cụ, trang sức…, được giới thiệu theo các chủ đề cùng với hiện vật của những dân tộc khác, trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”. Tất cả các bài viết và thông tin về hiện vật, về ảnh thực địa, đều được thể hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).

Người Xơđăng

Dân tộc Xơđăng có 5 nhóm địa phương: Cadong, Tơđrá, Mnâm, Halăng, Xơteng, với tổng dân số hơn 169.000 người (2009), phân bố chủ yếu ở Kon Tum (Tây Nguyên). Tiếng nói của họ thuộc ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á).

Người Xơđăng làm nhiều loại vật dụng bằng gỗ, tre, nứa, mây, rất tinh tế và tiện lợi. Đồ gia dụng, công cụ và nhạc cụ đều phong phú, đa dạng. Nhóm Tơđrá có truyền thống thu nhặt quặng sắt, nung và luyện ra nguyên liệu để rèn dao, cuốc, rìu, giáo. Họ sử dụng các bễ lò làm bằng da hoẵng. Ở vùng tây bắc tỉnh Kon Tum, họ còn có nghề đãi vàng ở sông suối. Sản phẩm dệt phổ biến là vải bông, để mộc hoặc nhuộm chàm. Y phục cổ truyền gồm khố của nam giới, váy và áo của nữ giới, trời lạnh thì dùng tấm vải choàng người.

Nghệ thuật trang trí Xơđăng thể hiện tập trung ở hoa văn trên vải, đồ đan, cây nêu trong các lễ cúng, với 3 màu truyền thống là: đen, đỏ và trắng. Ở nhiều nơi, nhà rông là công trình kiến trúc hoành tráng của làng.

Người Xơđăng có nhiều nghi lễ theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, chủ yếu để cầu mùa, cầu an và tạ ơn thần linh, lớn nhất là lễ hiến sinh trâu.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, phần giới thiệu về người Xơđăng rất phong phú, được bố trí trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên” ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”. Có hơn 30 hiện vật, gồm các loại: nông cụ, ngư cụ, nhạc cụ, vũ khí, trang sức, nón đan, gùi đàn ông, tẩu hút thuốc, vỏ bầu, bù nhìn, trang trí cột lễ… Trong số đó, đặc biệt là những chiếc gùi – loại đồ đựng và phương tiện vận chuyển không thể thiếu của người Xơđăng cũng như các dân tộc ở Tây Nguyên và ở vùng núi nói chung. Ngoài ra, trong trưng bày còn có mô hình nhà rông và các bức ảnh thực địa sống động. Tất cả các bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).

Người Xtiêng

Xtiêng là một trong những cư dân bản địa miền đông Nam Bộ, cư trú ở cả Campuchia. Ở Việt Nam, họ có hơn 85.000 người (2009), gồm hai nhóm chính: Bù Lơ (ở vùng cao) và Bù Đek (ở vùng thấp). Phần đông họ sinh sống tại Bình Phước, một bộ phận ở Tây Ninh và Đồng Nai. Tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (ngữ hệ Nam Á).

Canh tác rẫy là hoạt động sản xuất chính của người Xtiêng. Các loại cây lương thực, cây thực phẩm, thuốc lá, bông… đều trồng trên rẫy. Từ khoảng 100 năm trước, ở một số nơi họ đã làm ruộng nước, với việc dùng cày, bừa có trâu kéo. Tuy vậy, với đa số người Xtiêng thì trâu vẫn chỉ là tài sản, dùng để trao đổi hàng hóa và để hiến sinh. Nghề rèn cũng từng phát triển, nhưng đã mai một từ lâu. Nam giới xưa kia giỏi săn bắn và thạo đan lát. Phụ nữ còn giữ được nghề dệt vải, nhưng nghề làm gốm đã bị lãng quên.

Tương tự như nhiều cư dân Tây Nguyên, nam giới Xtiêng xưa kia đóng khố, ở trần, nữ mặc váy và áo chui đầu, khi trời lạnh thì khoác tấm mền vải. Họ đeo nhiều trang sức, phổ biến là các chuỗi hạt cườm đeo cổ, vòng đồng đeo tay và chân, có cả loại vòng xoắn dây đồng tạo thành hình ống dài, hoa tai quý nhất là loại làm bằng ngà voi, đường kính có thể tới 3-4 cm.

Trong ngôi nhà dài truyền thống có nhiều gia đình, mỗi cặp vợ chồng cùng con cái có chỗ riêng được đánh dấu bằng một bếp lửa. Nhà sàn phổ biến ở vùng thấp, nhà trệt thường thấy ở vùng cao. Nhà của người Bù Lơ ở Phước Long (Bình Phước) đặc trưng bởi mái lợp cỏ tranh trùm xuống gấn sát đất và uốn khum ở hai đầu hồi.

Người Bù Đek còn bảo lưu yếu tố mẫu hệ khá rõ nét, trong khi ở người Bù Lơ, tính phụ hệ nổi bật hơn. Khi cưới vợ, đàn ông Bù Lơ phải nộp cho nhà gái nhiều của cải, cô dâu đến ở với gia đình chồng; còn lễ vật của đàn ông Bù Đek tuy ít hơn, nhưng chàng rể phải tới ở nhà vợ. Người ta thích cho con trai của chị/em gái lấy con gái của anh/em trai, người Bù Đek chấp nhận cả việc con gái của chị/em gái lấy con trai của anh/em trai.

Trong các lễ cúng, cùng với rượu cần còn phải có vật hiến sinh, thường là gà, lợn, lớn nhất là trâu. Những con vật màu trắng được cho là có giá trị hơn đối với “thần linh”.

Người Xtiêng hay sử dụng bộ chiêng 6 chiếc, chỉ trong hiến sinh trâu mới được tấu bên ngoài nhà ở. Ngoài ra, họ còn có nhiều loại nhạc cụ khác, phần lớn được làm bằng tre nứa và vỏ bầu.

Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Xtiêng: khố, gùi, giỏ tuốt lúa, vật dụng bằng vỏ bầu…, được giới thiệu cùng với hiện vật các dân tộc khác trong không gian “Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên”, ở tầng 2 của toà nhà “Trống đồng”.

 

 

5/5 - (2 bình chọn)

Trả lời

Your email address will not be published.