Siêu lạm phát là gì? Các quốc gia đã chịu đựng siêu lạm phát trong lịch sử

1

[CPP] Chúng ta cùng đi tìm định nghĩa về siêu lạm phát, nguyên nhân và hậu quả của nó. Sau đó chúng ta sẽ quay về lịch sử để tìm hiểu các nước nào đã trải qua giai đoạn siêu lạm phát tồi tệ này.

Siêu lạm phát là gì?

Khái niệm siêu lạm phát

Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác.

Siêu lạm phát (hyperinflation) là tình trạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng. Thông thường, tốc độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số hàng năm thì gọi là siêu lạm phát. Khi có siêu lạm phát, tiền mất giá nghiêm trọng, và lượng cầu về tiền tệ giảm đi đáng kể.

Định nghĩa siêu lạm phát

Không có định nghĩa thống nhất về siêu lạm phát. Có người cho rằng:

  • Lạm phát trên 1.000% là siêu lạm phát
  • Lạm phát trên 100% đến dưới 1.000% là lạm phát phi mã
  • Lạm phát từ 10% đến dưới 100% là lạm phát cao

Năm 1956, Phillip Cagan viết quyển sách Tiền tệ và cơ năng của siêu lạm phát, là nghiên cứu chính thức đầu tiên về siêu lạm phát và ảnh hưởng của nó (dù quyển Kinh tế học về lạm phát của C. Bresciani-Turroni đã được xuất bản năm 1931 tại Ý, nói về thời kì siêu lạm phát tại Cộng hòa Weimar những năm đầu thập niên 1920). Trong cuốn sách của mình, Cagan định nghĩa rằng siêu lạm phát xảy ra khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên 50% hoặc hơn, và kết thúc khi xuống dưới 50% (với điều kiện là nó phải duy trì trong vòng ít nhất một năm).

Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế đã ban hành nguyên tắc giữ sổ sách trong một môi trường siêu lạm phát. Chúng không thiết lập một quy tắc tuyệt đối nào khi siêu lạm phát phát sinh. Thay vào đó, các yếu tố sau đây sẽ cho thấy sự tồn tại của siêu lạm phát:

  • Dân số nói chung cảm thấy hạnh phúc với tài sản phi tiền tệ hoặc ngoại tệ. Tiền nội tệ được sử dụng ngay lập tức để duy trì sức mua, chúng không được dân chúng giữ lại.
  • Dân số nói chung có sự liên quan đến các khoản tiền tệ trong kỳ hạn của một ngoại tệ. Giá có thể được dẫn chứng bằng ngoại tệ đó.
  • Mua bán tín dụng diễn ra ở mức giá có thể bù đắp cho sự thiếu hụt sức mua trong thời hạn tín dụng, thậm chí trong thời gian ngắn.
  • Lãi suất, tiền lương và giá cả được liên kết với một chỉ số giá, và
  • Tỉ lệ lạm phát trong 3 năm tích lũy là 100% hoặc hơn.

Nguyên nhân của siêu lạm phát là gì?

Hiện có nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến siêu lạm phát. Nhưng gần như tất cả các siêu lạm phát đã được gây ra bởi thâm hụt ngân sách chính phủ, nên buộc chính phủ phải in thêm rất nhiều tiền. Sau khi phân tích 29 siêu lạm phát (theo định nghĩa của Cagan) thì Bernholz đã kết luận rằng ít nhất 25 trong số đó đã xảy ra theo cách này. Bên cạnh đó, một điều kiện cần thiết cho siêu lạm phát là sự tồn tại của các loại tiền tệ không chuyển đổi cố định vào vàng và bạc. Giả thuyết này được đề xuất bởi có một thực tế là có một số trường hợp ngoại lệ về siêu lạm phát, chẳng hạn như siêu lạm phát của Pháp những năm 1789-1796, sau khi tiền “assignat”, một loại tiền giấy không chuyển đổi, được giới thiệu.

Hậu quả của siêu lạm phát là gì?

Siêu lạm phát làm giảm sức mua của các tổ chức tiết kiệm tư nhân và công cộng; bóp méo nền kinh tế thiên về việc tích trữ tài sản thực tế; làm cơ sở tiền tệ tháo chạy khỏi đất nước, cho dù nội tệ hay ngoại tệ có mạnh đến đâu.

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của siêu lạm phát là sự gia tăng thay thế tiền lạm phát bằng cách ổn định làm ổn định tiền vàng và bạc trong thời gian trước đây, sau đó làm ổn định ngoại tệ một cách tương đối (sau sự sụp đổ của tiêu chuẩn vàng bạc, theo định luật Gresham). Nếu lạm phát đủ cao, các quy định của chính phủ như hình phạt nặng, tiền phạt, thường kết hợp với kiểm soát ngoại hối sẽ không thể ngăn chặn việc thay thế tiền lạm phát. Kết quả là, đồng tiền lạm phát sẽ bị định giá thấp hơn so với tiền nước ngoài ổn định, trong điều kiện sức mua tương đương. Vì vậy, người nước ngoài có thể sống và mua sản phẩm ở mức giá rẻ ở các nước bị lạm phát cao. Nó có thể dẫn đến việc chính phủ của các nước – vốn thất bại trong việc cải cách tiền tệ trong một thời gian – phải hợp pháp hóa các ngoại tệ mạnh (trước đây là vàng và bạc), và chúng có thể thay thế hoàn toàn tiền lạm phát. Nếu không hợp pháp hóa ngoại tệ mạnh, thì doanh thu thuế của chính phủ, bao gồm thuế lạm phát, sẽ tiếp cận xuống đến mức 0. Quá trình này có thể thấy được ở Zimbabwe vào cuối thập niên 2000. Khi đó, đồng đôla của nước này, do bị mất giá nghiêm trọng, nên đã được thay thế bằng đồng đôla Mỹ và rand Nam Phi.

Lịch sử siêu lạm phát của các quốc gia

Sau đây bài viết sẽ tổng hợp các quốc gia đã từng trải qua giai đoạn siêu lạm phát tồi tệ này, và bạn sẽ nhận ra ngay được hậu quả vô cùng nghiêm trọng của nó!

Các vụ siêu lạm phát tồi tệ nhất trong lịch sử

Nhiều nước trên thế giới đã từng trải qua những vụ siêu lạm phát tồi tệ với tỷ lệ lạm phát lên tới hàng tỷ % và những đồng tiền với mệnh giá có tới 20 số 0.

Dưới đây là điểm qua những lần siêu lạm phát tồi tệ nhất trong lịch sử.

Siêu lạm phát ở Pháp (1795-1796)

Siêu lạm phát ở Pháp
Siêu lạm phát ở Pháp
  • Thời gian: Tháng 5/1795 – Tháng 11/ 1796
  • Tỷ lệ lạm phát hàng ngày: 5% Giá cả tăng gấp đôi trong mỗi: 15 ngày 2 giờ

Cuộc cách mạng Pháp xảy ra sau thời kỳ Pháp phải gánh những khoản nợ dai dẳng khi tham gia chiến tranh trong đó có chiến tranh ở Mỹ và Anh.

Một trong những chính sách kinh tế phổ biến của cuộc cách mạng Pháp là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Chính phủ Pháp phát hành tín phiếu “assignat” qui định người nắm giữ chúng sẽ được có thể chuộc lại đất đai trong tương lai. Tuy nhiên, trong nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách, chính phủ Pháp đã phát hành quá nhiều và cuối cùng phải giảm giá tín phiếu dẫn đến siêu lạm phát.

Siêu lạm phát ở Đức (1921 – 1923)

Siêu lạm phát ở Đức
Siêu lạm phát ở Đức

Nước Đức rơi vào lạm phát trầm trọng nhất vào hồi tháng 10/1923 khi tỷ lệ lạm phát lê tới 29.500%. Tại thời điểm 12/1923, người ta phải bỏ ra 4.200 tỷ mác (papiermark) để đổi lấy 1 USD.

Trong những năm 1920, người Đức đã phải dùng đến củi và than để thay để cho đồng mác đã bị mất giá thảm hại do lạm phát. Lúc đó, dùng tiền để đốt thậm chí còn rẻ hơn so với củi và than.

Ban đầu, người ta cho rằng nguyên nhân của cuộc siêu lạm phát này là việc chính phủ Đức in quá nhiều tiền để chi tiêu cho chiến tranh. Nhưng nguyên nhân thực sự đã được hé lộ vài năm sau. Đó là chính phủ Đức quyết định vay mượn để chi trả chiến tranh. Năm 1919, giá cả gần như đã tăng gấp đôi và nước Đức thất trận. Khoản tiền bồi thường sau chiến tranh được quy định trong Hiệp ước Versailles buộc Đức phải trả bằng vàng hay ngoại tệ tương ứng thay vì đồng mác. Để mua số ngoại tệ này, chính phủ Đức đã phải sử dụng đồng papiermark được đảm bảo bằng nợ chính phủ và vì vậy đã làm tăng tốc độ phá giá đồng tiền.

Tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn khi Đức không thể trả được các khoản nợ và quân đội Pháp và Bỉ đã chiếm thung lũng Ruhr vào tháng 1/1923 để đòi Đức phải trả bằng hiện vật. Sự việc này đã nhanh chóng đẩy nền kinh tế Đức rơi vào lạm phát phi mã.

Để thoát khỏi tình trạng này, chính phủ Đức đã lập một ngân hàng trung ương đặc biệt và phát hành loại tiền tệ mới, rentenmark với tỷ giá 4,2 rentenmark/USD và giảm bớt 12 số 0 trên tờ tiền papiermark. Đồng rentenmark đã giúp bình ổn kinh tế Đức một cách khá hiệu quả.

Siêu lạm phát ở Hy Lạp (1943 – 1946)

Siêu lạm phát ở Hy Lạp
Siêu lạm phát ở Hy Lạp

Tháng 10/1944, tỷ lệ lạm phát hàng tháng của Hy Lạp lên tới 13.800% và hàng ngày là 10,9%.

Năm 1942, mệnh giá lớn nhất của đồng drachma Hy Lạp là 50.000, nhưng vào năm 1944, con số này là 100 nghìn tỷ. Chính phủ Hy Lạp đã phải định giá lại đơn vị tiền tệ của mình và đổi đồng drachma cũ sang đồng tiền mới với tỷ lệ 50 tỷ : 1.

Thế chiến thứ 2 đã đẩy Hy Lạp vào tình trạng nợ nần chồng chất bởi chính phủ nước này đã không ngừng in tiền để trang trải cho những khoản chi phí. Những cuộc chiếm đóng của Đức và Italy đã khiến nền kinh tế Hy Lạp đình trệ, khiến người dân mất lòng tin vào tiền tệ và thậm chí ngân hàng trung ương nước này còn phát hành đồng xu franc vàng.

Để chấm dứt lạm phát phi mã, năm 1953, Hy Lạp đã gia nhập hệ thống Bretton Woods. Tổ chức này giúp ổn định tỷ giá hối đoái, liên kết các loại tiền tệ quốc tế với đồng đôla Mỹ.

Năm 1946, nước Anh đề xuất kế hoạch bình ổn cho Hy Lạp, bao gồm tăng doanh thu từ việc bán hàng cứu trợ, điều chỉnh một số thuế suất đặc biệt, cải thiện phương pháp thu thuế và thành lập một Ủy ban tiền tệ để chịu trách nhiệm các vấn đề về tài chính. Vào đầu năm 1947, giá cả được bình ổn, niềm tin người tiêu dùng được phục hồi và thu nhập người dân được nâng cao. Khi đó, Hy Lạp chính thức thoát khỏi siêu lạm phát.

Siêu lạm phát ở Hungary (1945 – 1946)

Siêu lạm phát ở Hungary
Siêu lạm phát ở Hungary

Tháng 7/1946, lạm phát hàng tháng tại Hungary là 4,19 x 10^16% và hàng ngày là 207%. Khi đó, tờ tiền mệnh giá lớn nhất tại nước này có tới 20 số 0. Tình hình trầm trọng đến nỗi chính phủ Hungary phải sử dụng một đơn vị tiền tệ đặc biệt được thiết kế cho trả thuế và bưu chính. Loại tiền này được điều chỉnh hằng ngày qua radio. Đồng pengo đã bị thay thế sau đó trong một lần tái định giá tiền, khi đó tổng giá trị của tất cả các tờ tiền Hungary đang được lưu thông ở nước này có giá trị chỉ bằng 1/1000 USD.

Chiến tranh chính là nguyên nhân của tình trạng lạm phát phi mã tại Hungary. Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, nền kinh tế của Hungary đang rất yếu kém, nước này còn mạnh tay áp dụng những chính sách bao cấp cho khu vực kinh tế tư nhân, gây ra tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu của ngân sách, tình trạng in tiền diễn ra ồ ạt.

Để giải quyết tình hình, chính phủ Hungary phải cho ra đời đơn vị tiền tệ mới – đồng forint – có thể quy đổi trực tiếp ra vàng và ra các ngoại tệ khác.

Siêu lạm phát ở Trung Quốc (1948 – 1949)

Siêu lạm phát ở Trung Quốc
Siêu lạm phát ở Trung Quốc

Tháng 5/1949, tỷ lệ lạm phát tháng tại Trung Quốc là 2.178% và ngày là 11%. Khi đó, mệnh giá tiền tệ lớn nhất là 6 tỷ Nhân Dân Tệ.

Chính quyền dân tộc Trung Quốc nắm quyền kiếm soát các ngân hàng và không ngừng in tiền để chi trả cho cuộc chiến tranh với Nhật Bản và nội chiến chống lại lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông.

Để thoát khỏi lạm phát phi mã, Trung Quốc đã phải định giá lại tiền tệ, theo đó 1 đồng Nhân Dân Tệ mới tương đương với 10.000 của đồng Nhân Dân Tệ cũ.

Siêu lạm phát ở Chile (1973 – 1975)

Thời điểm tháng 4/1974, lạm phát năm của Chile là 746,29%.

Nguyên nhân của tình trạng lạm phát này là việc tổng thống Salvador Allende đã quốc hữu hóa các công ty, mỏ dầu, đất động sản tư nhân nhằm thả nổi nền kinh tế. Việc hạ giá đồng escudos đã khiến nhu cầu đồng đôla tăng cao.

Chile chỉ thoát khỏi tình trạng này khi ông Augusto Pinochet lên nắm quyền. Ông cho bán các công ty quốc doanh và phát hành đồng peso mới.

Siêu lạm phát ở Argentina (những năm 1980)

Năm 1989, tỷ lệ lạm phát hàng năm của Argentina lên tới 12.000%. Khi đó, một peso của năm 1992 có giá trị tương đương 100 triệu peso trước năm 1983.

Nguyên nhân của tình trạng này là chính phủ nước này chìm trong các khoản nợ nước ngoài khổng lồ và hạ giá tiền tệ để tăng thặng dư thương mại.

Để thoát khỏi tình trạng này, chính phủ Argentina đã cố gắng cải tổ nền kinh tế với các chương trình như Primavera Plan. Tuy nhiên chương trình này đã không đem lại hiệu quả. Chỉ đến khi Argentina triển khai kế hoạch BB với các biện pháp ổn định kinh tế thì tình hình lạm phát tại nước này mới được kiểm soát.

Siêu lạm phát ở Bolivia (1984 – 1985)

Thời điểm từ tháng 5 đến tháng 8/1985, lạm phát năm tại Bolivia đã lên tới đỉnh điểm với tỷ lệ 60.000%.

Không giống như hầu hết các trường hợp lạm phát của nước khác trong danh sách này, siêu lạm phát tại Bolivia không bắt nguồn từ chiến tranh. Tình hình chính trị bất ổn tại Bolivia thời điểm đó đã khiến cho công nghiệp của nước này suy sụp và các khoản nợ nước ngoài khổng lồ đã buộc chính phủ Bolivia liên tục in tiền.

Để chấm dứt tình trạng này, chính quyền tổng thống Victor-Paz Esonoro khi đó đã thực hiện nhiều cải cách tiền tệ và tài khóa và chính phủ cũng ngừng việc in tiền vô tội vạ. Chính quyền tăng nguồn thu ngân sách bằng cách mở rộng cơ sở thu thuế, tăng giá dầu các mặt hàng khác thuộc khu vực kinh tế nhà nước.

Siêu lạm phát ở Nicaragua (1987 – 1990)

Siêu lạm phát ở Nicaragua
Siêu lạm phát ở Nicaragua

Vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, người dân Nicaragua thường nói rằng: họ đang sống trong một đất nước của những triệu phú. Chính phủ đã in những tờ tiền có mệnh giá tới 100 triệu cordobas. Năm 1987, tỷ lệ lạm phát của Nicaragua là trên 30.000%.

Những cuộc chiến của phe nổi dậy, suy giảm trong xuất khẩu nông nghiệp và cấm vận của Mỹ đã khiến cho tiền tệ của Nicaragua mất giá thảm hại so với đồng đôla Mỹ. Chính phủ nước này buộc phải in tiền với mệnh giá ngày một cao hơn.

Khi mâu thuẫn vũ trang chấm dứt và việc ông Violeta Chamorro thắng cử tổng thống năm 1990 và đưa ra những biện pháp cải tổ kinh tế, tình hình lạm phát phi mã tại Nicaragua mới được kiểm soát.

Tổng thống Chamorro đã có công thu hút đầu tư nước ngoài và tìm kiếm sự ủng hộ từ phía Mỹ.

Siêu lạm phát ở Nam Tư cũ (Yugoslavia) (1989 – 1994)

Siêu lạm phát ở Nam Tư cũ
Siêu lạm phát ở Nam Tư cũ

Năm 1994, tỷ lệ lạm phát tháng tại Nam Tư (cũ) lên tới đỉnh điểm là 313.000.000% và lạm phát ngày là 64,6%. Chính phủ nước này đã phải in những tờ dinar với mệnh giá 500 tỷ. Trong toàn bộ thời kỳ lạm phát, ước tính giá cả tăng khoảng 5 triệu tỷ lần.

Nguyên nhân dẫn đến cuộc lạm phát này là những xung đột trong khu vực, khủng hoảng kinh tế, việc in tiền không kiểm soát và những chính sách quản lý kém hiệu quả của chính phủ Nam Tư. Tình hình lạm phát trở nên tồi tệ hơn khi Liên hợp quốc áp dụng những biện pháp trừng phát với nước này khiến cho sản lượng sản xuất của nước này sụt giảm nghiêm trọng.

Để kiểm soát lạm phát, năm 1994, chính phủ Nam Tư đã phát hành đồng dinar mới với tỷ lệ 1,3 triệu dinar cũ: 1 dinar mới.

Siêu lạm phát ở Peru (1990)

Siêu lạm phát ở Peru
Siêu lạm phát ở Peru
  • Thời gian: Tháng 7/1990 – Tháng 8/1990
  • Tỷ lệ lạm phát hàng ngày: 5% Giá cả tăng gấp đôi trong mỗi: 13 ngày 2 giờ

Peru đã có thời gian dài chiến đấu với lạm phát trong suốt nửa sau của thế kỷ 20. Những năm đầu 1980, Tổng thống Fernando Belaunde Terry buộc phải thực hiện thắt lưng buộc bụng theo yêu cầu của IMF và đó là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát. Tuy nhiên, trên thực tế, Peru đã không tuân thủ những biện pháp này.

Sau đó, Alan Garcia được chọn là người thay thế vào năm 1985 với hàng loạt các biện pháp cải cách kinh tế. Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ làm nền kinh tế suy yếu thêm và Peru bị loại khỏi thị trường vốn quốc tế. Tính trạng này kéo dài nhiều năm khiến Peru lâm vào cuộc siêu lạm phát.

Siêu lạm phát ở Zimbabwe (2000 – 2009)

Siêu lạm phát ở Zimbabwe
Siêu lạm phát ở Zimbabwe

Trong giai đoạn này, lạm phát tại Zimbabwe có lúc lên tới đỉnh điểm với tỷ lệ 516 x 10^18 %. Có thời điểm ngân hàng trung ương nước này phải in những tờ đôla Zimbabwean 100.000 tỷ để người tiêu dùng không phải mang theo cả bao tải tiền mặt khi đi mua sắm.

Tình trạng lạm phát phi mã nằm ngoài kiểm soát này của Zimbabwe là do các chính sách của tổng thống Mugabe trong chi tiêu ngân sách chính phủ và do sự quản lý yếu kém của chính phủ Zimbabwe. Nhưng ông Mugabe lại đổ lỗi các biện pháp trừng phạt của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Ông cho rằng chính điều này đã gây ra tình hình kinh tế hỗn loạn tại Zimbabwe.

Năm 2009, chính phủ nước này đã từ bỏ đồng đôla Zimbabwe và cho phép sử dụng đồng rand của Nam Phi và đồng đôla Mỹ.

Tổng kết

In tiền để phục vụ chiến tranh, thâm hụt ngân sách nặng nề, chính sách vay nợ sai lầm… là những nguyên nhân dẫn tới các cuộc siêu lạm phát tồi tệ nhất lịch sử.

Mới đây, 2 nhà kinh tế học Steve Hanke và Nicholas Krus vừa đưa ra những dữ liệu thống kê mới nhất về 56 vụ siêu lạm phát đã xảy ra trong lịch sử. Khi siêu lạm phát xảy ra, niềm tin vào đồng tiền pháp định của 1 quốc gia cũng như khả năng tín dụng của đồng tiền ấy biến mất hoàn toàn.

Thông thường, siêu lạm phát là xu hướng hay xảy ra ở các nước đang phát triển, điển hình như các nước Mỹ Latinh trong khủng hoảng nợ phá hủy khu vực này trong những năm 1980. Tuy nhiên, thậm chí một vài nền kinh tế lớn nhất thế giới hiện nay – như Trung Quốc, Đức và Pháp – cũng đã từng trải qua những vụ siêu lạm phát tồi tệ.

Bên trên là bài viết tổng hợp về siêu lạm phát, nguyên nhân, hậu quả và lịch sử một số nước đã từng trải qua tình trạng siêu lạm phát tồi tệ này.

Liên Quan

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây